6 nguyên tố vi lượng tốt cho phụ nữ thời kỳ mang thai

0
Cập nhật lần cuối

Sắt là một trong những nguyên tố vi lượng quan trọng của cơ thể con người, là thành phần cơ bản cấu thành huyết sắc tố trong hồng cầu.

Cơ thể người được cấu tạo bởi gần 60 nguyên tố. Ngoài những nguyên tố chính, chiếm phần lớn trong cơ thể như cacbon, hydro, oxi, clo, kali, canxi, magie, photpho, lưu huỳnh, còn có số ít hàm lượng nguyên tố khác, nồng độ dưới 0.005%, những nguyên tố này gọi là nguyên tố vi lượng.

Những nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể có 14 loại: sắt, iốt, đồng, kẽm, mangan, côban, sêlen, molipden, crômi, niken, fluor, vanadi, silic, thạch tín. Mặc dù hàm lượng của chúng cực ít, như kẽm chỉ chiếm 33/triệu, fluor không quá 40/triệu, sắt cũng chỉ chiếm 60/triệu trong cơ thể người, song chúng lại đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cơ thể người.

Do nhu cầu phát triển của thai nhi và nhu cầu bài tiết các chất nên chức năng trao đổi chất ở cơ thể phụ nữ mang thai tăng rõ rệt, đương nhiên các nguyên tố vi lượng cần thiết để hình thành một số men nào đó cũng phải tăng theo.

Do vậy, nếu cơ thể người mẹ không được cung cấp đủ nguyên tố vi lượng cần thiết thì sẽ gây ảnh hưởng xấu cho cả mẹ và con, nhẹ thì thai nhi dị tật, nặng thì sảy thai, chết lưu.

1.Sắt:

Sắt là một trong những nguyên tố vi lượng quan trọng của cơ thể con người, là thành phần cơ bản cấu thành huyết sắc tố trong hồng cầu. Theo thống kê, có khoảng 10 ~ 20% phụ nữ mang thai có tình trạng dinh dưỡng tương đối tốt bị thiếu sắt, và có khoảng 50% phụ nữ mang thai dinh dưỡng bình thường thiếu sắt.

Hậu quả trực tiếp của thiếu sắt là thiếu máu, thiếu máu sẽ gây tác hại nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai. Trước hết, nó làm giảm sức đề kháng và miễn dịch của phụ nữ mang thai, khiến phụ nữ mang thai dễ mắc các bệnh truyền nhiễm.

Theo lâm sàng, trong quá trình mang thai, phụ nữ mang thai thiếu máu dễ mắc các bệnh như: viêm đường hô hấp, viêm phế quản, tiêu hóa kém, nặng còn có thể khiến chức năng tim suy giảm. Tiếp đến, thiếu máu tăng nguy hiểm cho sinh đẻ.

Phụ nữ mang thai thiếu máu nghiêm trọng không đảm đương nổi gánh nặng mất máu khi sinh, khiến toàn thân kiệt quệ, thậm chí tử vong. Người mẹ thiếu máu, ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, khiến thai nhi phát triển chậm trong tử cung.

Lâm sàng chứng minh, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới đẻ non, thể trọng trẻ sơ sinh thấp có mối quan hệ với thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai. Từ đó có thể thấy, phụ nữ mang thai không nên coi thường việc bổ sung sắt.

Bình thường phụ nữ mang thai cần chú ý ăn nhiều thức ăn giàu sắt, có lợi cho việc bổ sung sắt đối với cơ thể. Đậu tương, đậu phụ, gạo nếp, gan dê, thịt nạc, gan lợn, máu động vật, rau cần, rong biển, bắp cải tím, mộc nhĩ,… là những thức ăn có chứa sắt phong phú.

Cơ thể người có thể hấp thu được 25% sắt có trong gan và máu động vật, mà không chịu sự ảnh hưởng của bất cứ thức ăn khác; Trong khi đó, những thực phẩm mang tính thực vật như: Lương thực, rau… con người lại chỉ có thể hấp thu được 3%, hơn nữa còn chịu sự ảnh hưởng của thành phần khác trong thức ăn.

Vậy, làm thế nào để tăng tỉ lệ hấp thu sắt thực vật? Nghiên cứu cho thấy, vitamin C và các loại thịt có thể nâng cao tỉ lệ hấp thu sắt. Sau bữa ăn có thể ăn một loại quả giàu vitamin C, thì tỉ lệ sắt hấp thu được tăng 3 ~ 5 lần; Mỗi bữa, ăn khoảng 25 ~ 50g thịt thì lượng sắt hấp thu được cũng tăng rõ rệt; Nếu ăn kết hợp cả thịt, rau tươi hoặc hoa quả thì tỉ lệ sắt hấp thu được sẽ càng cao.

2.Iôt:

lốt chiếm hàm lượng cực nhỏ trong cơ thể người, cơ thể một người trưởng thành khỏe mạnh bình thường có chứa khoảng 50mg iốt. Iôt phát huy hiệu ứng sinh lý thông qua sự hợp thành tố tuyến giáp trạng.

Vai trò sinh vật học của tố tuyến giáp trạng bao gồm các chức năng quan trọng như: Thúc đẩy sự hợp thành của protein, làm tăng hoạt tính của hơn 100 loại men, điều tiết sự thay đổi năng lượng, thúc đẩy phát triển, duy trì kết cấu của hệ thống thần kinh trung ương, bảo đảm trạng thái thần kinh và hình thái cơ thể bình thường, tham gia quá trình trao đổi chất.

Sau khi mang thai, thai nhi liên tục phát triển, do vậy lượng iốt cần thiết ở cơ thể phụ nữ mang thai cũng cần tăng theo. Khi phôi thai được 13 ~ 22 tuần, khoảng thời gian này chính là lúc tế bào và thần kinh hình thành, nếu thiếu nguyên tố iốt và hormon tuyến giáp trạng thì sẽ khiến vùng thính giác, ngôn ngữ và trí lực ở vỏ não không thể phân hóa và phát triển hoàn toàn.

Sau khi trẻ được sinh ra, mức độ biểu hiện của bệnh cũng khác nhau, có thể mắc các bệnh dị tật bẩm sinh như: Điếc, đần độn, cơ thể thấp bé, hay co giật, trí lực kém, đầu bé, vị trí tai thấp,..

Hàm lượng iốt có trong động thực vật có nguồn gốc từ biển nhiều nhất, đây chính là lý do vì sao nước biển giàu iốt. Hàm lượng iốt trong những loại rau, quả sinh ra từ biển tương đối cao. Muốn bổ sung iốt có thể ăn đồ biển như: Rong biển, hải sâm, tảo cao, sò, nghêu, sứa,… Để chống bệnh thiếu iốt, cũng có thể ăn thêm muối iốt.

3. Đồng:

Hàm lượng đồng trong cơ thể người khoảng 75 ~ 150mg, chủ yếu phân bố ở não, gan, thận, tim, tủy và tóc. Đồng là bộ phận cấu thành nên nhiều loại men trong cơ thể người. Phụ nữ mang thai thiếu đồng sẽ ảnh hưởng tới sự phân hóa và phát triển bình thường của phôi thai và thai nhi, dẫn tới dị tật bẩm sinh hoặc đẻ non.

Nguyên nhân của nó là: Khi phụ nữ mang thai ở vào thời kì sinh lý đặc biệt, máu có thể “hút” nguyên tố đồng ở các cơ quan khác của cơ thể, do vậy trong thời kì mang thai, hàm lượng đồng trong máu của phụ nữ mang thai tăng rõ rệt, bình quân đạt 20mg/lít, cao nhất có thể tới 410mg/lít.

Nếu cơ thể phụ nữ mang thai thiếu đồng thì máu khó có thể “hút” đủ nguyên tố đồng. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy, cơ thể người mẹ thiếu đồng sẽ khiến độ bền và tính đàn hồi của màng ối giảm, tính giòn tăng, dễ dẫn tới đẻ sớm hoặc sảy thai do màng ối bị rách.

Khi phụ nữ mang thai thiếu đồng có thể làm nặng thêm bệnh thiếu máu do thiếu đồng, khó làm thay đổi được tình trạng thiếu máu; thiếu đồng ở giai đoạn cuối thai nghén còn có thể gây cản trở cho sự phát triển tế bào thần kinh của thai nhi và mất cân bằng chung cho toàn bộ cơ thể sau khi sinh.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần chú ý bổ sung đồng. Biện pháp tốt nhất bổ sung đồng là bổ sung thức ăn. Những thức ăn có chứa đồng phong phú là: Gan, bầu dục, lòng đỏ trứng gà, các loại cá (đặc biệt là cá biển), các loại thủy sản như sò, ngao, trai và các loại lương thực.

Tham khảo thêm: Củ đậu và bầu bí tốt cho sức khỏe phụ nữ mang thai thế nào?

4. Kẽm:

Hàm lượng kẽm trong cơ thể người khoảng 2 – 4g, chủ yếu phân bố ở tóc, xương, gan, thận, cơ bắp, tinh hoàn, hồng cầu trong máu. Nó có liên quan mật thiết tới hơn 80 loại men, chức năng chủ yếu là tham gia cấu thành các loại men trong cơ thể, thúc đẩy hoạt tính của men, tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

Sau khi mang thai, lượng kẽm cần thiết đối với cơ thể phụ nữ mang thai tăng, do dung lượng huyết tương sau khi mang thai tăng, ảnh hưởng của kích tố đến cuống rốn và sự hấp thu của thai nhi đã thúc đẩy sự trao đổi kẽm trong cơ thể diễn ra nhanh hơn.

Phụ nữ thiếu kẽm trong thời kì mang thai dễ bị sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, thai bị dị tật bẩm sinh, và gây ra những tổn hại nghiêm trọng đối với hệ thống thần kinh trung ương và xương của thai nhi.

Những phụ nữ mang thai có nồng độ kẽm thấp hơn mức bình thường thì sẽ sinh ra những đứa trẻ thiếu tháng có nồng độ kẽm trong máu thấp hơn những đứa sinh đủ tháng.

Hàm lượng kẽm trong cơ thể người mẹ không đủ nên lượng kẽm đưa tới thai nhi qua cuống rốn cũng giảm. Theo nghiên cứu của Mỹ, tỉ lệ sinh ra trẻ dị tật bẩm sinh có thể nhìn thấy bằng mắt thường ở những phụ nữ mang thai thiếu kẽm tương đối cao, đạt 13 – 83%, bao gồm những bệnh như: sứt môi, hở hàm ếch, vẹo cột sống, chân dị tật, mắt quá nhỏ hoặc không có mắt và những khác thường về tim và phổi.

Lượng kẽm cần thiết cho một người bình thường mỗi ngày không quá 15mg, Tổ chức y tế thế giới khuyên rằng: Lượng kẽm cần thiết cho phụ nữ mang thai cứ 6 ngày là 20mg.

Tuy nhiên, dựa vào tình hình kinh tế và kết cấu bữa ăn hiện nay của chúng ta thì phụ nữ mang thai khó mà hấp thu đủ lượng kẽm cần thiết từ trong bữa ăn bình thường.

Do vậy, cần bổ sung những thức ăn có hàm lượng kẽm phong phú, như: Những loại thức ăn giàu protein như con hàu, thịt bò, các loại cá, ngoài ra hàm lượng kẽm trong thịt gà, thịt vịt, trứng gà, sữa, dầu lạc, đỗ tương, rau cải trắng, cà rốt, cà tím và các loại lương thực cũng khá cao. Theo ước tính, mỗi kg tiểu mạch có chứa 29mg kẽm, mỗi kg đậu tương có chứa khoảng 35mg, mỗi kg rau cải trắng có chứa khoảng 42mg, mỗi kg cà có chứa khoảng 28mg.

5. Fluor:

Hàm lượng fluor trong cơ thể người cực ít, trong đó tập trung chủ yếu ở xương và răng. Fluor có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xương và răng. Phụ nữ mang thai nếu thiếu fluor có thể gây trở ngại cho sự hình thành xương và răng của thai nhi.

Do vậy, không thể xem nhẹ việc bổ sung fluor. Fluor hầu như tồn tại trong mọi thức ăn thông thường, đặc biệt tập trung nhiều nhất ở lá rau, là nguồn cung cấp fluor tốt nhất cho cơ thể. Hoa quả, rau, lương thực cũng chứa fluor.

6. Mangan:

Mangan có liên quan tới sự hợp thành của macopolg sacrotein. Macopolg sacrotein là thành phần quan trọng của xương sụn và xương. Thiếu mangan, sẽ gây trở ngại cho sự hợp thành của macopolg sacrotein, ảnh hưởng tới sự hình thành chất hữu cơ của xương, dẫn tới xương bị dị hình, biểu hiện ở xương sụn không đủ dinh dưỡng, xương ống dầy và ngắn, túi tai và xương tai không thể canxi hóa hết;

Trẻ mới sinh mất cân bằng về cơ thể, chức năng não cũng mất cân bằng, hơn nữa còn có biểu hiện bị ngất hoặc động kinh. Thậm chí, phụ nữ mang thai dễ bị sảy thai mang tính quy luật, lượng sữa tiết ra sau khi sinh ít.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, lượng mangan có chứa trong thịt, sữa, các sản phẩm tinh chế từ ngũ cốc thấp, trong khi đó lượng mangan có trong các loại thực phẩm ngũ cốc thô, quả cứng, thực vật có nguồn gốc đậu (đậu cove, đậu hà lan,…) và những loại rau lá xanh tương đối cao, đây là nguồn cung cấp mangan chủ yếu cho cơ thể phụ nữ mang thai.

Nguồn internet

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng