Công dụng chữa bệnh hiệu quả bằng quả bưởi cho bà bầu

0
Cập nhật lần cuối

Theo cụ Tuệ Tĩnh đã cho biết quả bưởi vị chua, tính lạnh, hay làm cho thư thái, trị được chứng có thai nôn nghén, nhác ăn, đau bụng, hay người bị tích trệ ăn không tiêu. Nay ta dùng dịch quả có tính chất khai vị và bổ, lợi tiêu hoá, khử lọc, dẫn lưu mật và thận, chống xuất huyết, làm mát.

Công dụng chữa bệnh bằng quả bưởi

Bưởi là cây to cao 5-10m; chồi non có lông mềm; cành có gai nhỏ dài đến 7cm. Lá rộng hình trái xoan, tròn ở gốc, mép nguyên, có khớp trên cuống lá; cuống lá có cánh rộng. Cụm hoa chùm ở nách lá, gồm 7-10 hoa to, màu trắng, rất thơm. Quả to, hình cầu và cầu phẳng, đường kính 15-30cm, màu vàng hay hồng tuỳ thứ.

Bưởi còn có tên gọi khác như bòng, thường trồng vào mùa xuân lấy hạt hay chiết cành trồng vào một hố to đổ nhiều mùn, phân, lèn chặt gốc. Lá bưởi tươi thu hái được quanh năm, quả thu hái vào mùa thu rồi gọt lấy vỏ, vỏ gọt càng mỏng càng tốt và đem phơi trong nắng râm cho thật khô. Cây ra hoa, kết quả hầu như quanh năm, chủ yếu mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 5 và mùa quả từ tháng 8 đến tháng 11.

Loài cây của vùng Ấn Độ, Malaixia, được trồng từ lâu đời ở nhiều nước châu Á. Ở nước ta, bưởi cũng được trồng nhiều khắp nơi. Có nhiều giống trồng có quả chua, ngọt khác nhau. Thường nói đến nhiều là bưởi Đoan Hùng (Vĩnh Phú) quả tròn, ngọt, nhiều nước; bưởi Phúc Trạch quả to, ngọt, nhiều nước, trồng nhiều ở Hương Khê (Hà Tĩnh); bưởi Thanh Trà (Huế) quả nhỏ nhiều nước, ngọt và thơm; loại Thanh Trà hồng ngon nhất; bưởi Biên Hoà (Đồng Nai) quả to, ngọt; nhiều nước, trồng ven sông Đồng Nai; bưởi đào, ruột và múi màu đỏ nhạt, thường rất chua; bưởi gấc, quả đỏ, chua, trồng ở ngoại thành Nam Định (Nam Hà) dùng để bày mâm ngũ quả ngày Tết.

Bưởi được trồng bằng hạt; nhưng thường người ta gieo hạt để làm gốc ghép. Các giống quý trồng bằng cành chiết hay cây ghép. Người ta thu hái những quả chín vào mùa thu – đông, đem phơi trong râm rồi gác bếp; khi dùng rửa qua cho sạch, gọt lấy lớp vỏ the ở ngoài. Lá thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi trong râm. Dịch quả được ép từ ruột quả chín.

Thành phần hoá học: vỏ quả ngoài rất giàu chất narin-gosid, do đó có vị đắng, trong vỏ có tinh dầu, tỷ lệ 0,80-0,84%; quả chứa 0,5% tinh dầu; trong lá cũng có tinh dầu. Tinh dầu vỏ bưởi chứa d-limonen, a- pinen, linalol, geraniol, citral; còn có các alcol, pectin, acid citric. Dịch quả chín có nhiều chất bổ dưỡng: nước 89%, glucid 9%, protid 0,6%, lipid 0,1% và các khoáng Ca 20mg%, p 20mg%, K 190mg%, Mg 12mg%, s 7mg% và Na, Cl, Fe, Cu, Mn… Có các vitamin (tính theo mg%) c 40, B 0,07, B2 0,05 PP 0,3 và tiền sinh tố A 0,1. 100 mg dịch quả cung cấp cho cơ thể 43 calo.

Tác dụng:

Trong cuốn Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết về bưởi; vỏ quả bưởi gọi là cam phao, vị đắng cay, tính không độc, thông lợi, trừ đờm táo thấp, hoà huyết, giảm đau; trị tràng phong, tiêu phù thũng. Bỏ cùi trắng, lấy lớp vỏ vàng sau dùng. Ngày nay, ta dùng vỏ quả, xem như có vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng trừ phong, hoá đàm, tiêu báng (lách to), tán khí thũng (phù thũng thuộc khí), ở Trung Quốc, người ta cho là nó làm để tiêu, giúp sự tiêu hoá, làm long đờm, chống ho.

Lá có vị đắng, the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tán khí, thông kinh lạc, giải cảm, trừ đờm, tiêu thực, hoạt huyết, tiêu sưng, tiêu viêm. Cụ Tuệ Tĩnh đã cho biết quả bưởi vị chua, tính lạnh, hay làm cho thư thái, trị được chứng có thai nôn nghén, nhác ăn, đau bụng, hay người bị tích trệ ăn không tiêu. Nay ta dùng dịch quả có tính chất khai vị và bổ, lợi tiêu hoá, khử lọc, dẫn lưu mật và thận, chống xuất huyết, làm mát.

Công dụng:

Vỏ quả dùng trị đờm kết đọng ở cổ họng và cuống phổi, đau bụng do lách to; còn dùng trị đau dạ dày, đầy bụng, ăn uống không tiêu, ho nhiều, hen, đau thoát vị. Lá dùng chữa sốt, ho, nhức đầu, hắt hơi, kém ăn; còn dùng chữa viêm vú, viêm amygdal. Ở ấn Độ, người ta dùng chữa bệnh động kinh, múa giật và ho có co giật.

Dịch quả dùng trong trường hợp chán ăn, mệt mỏi khó tiêu, ngộ độc, da huyết, tạng khớp, ít nước tiểu, suy mật, giòn mao mạch, chứng sốt và bệnh phổi, vỏ hạt có pectin dùng làm thuốc cầm máu. Hoa bưởi được dùng để cất tinh dầu thơm, dùng trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo.

Cách dùng:

–    Vỏ quả và lá được dùng uống trong dưới dạng thuốc sắc, mỗi ngày dùng 10-15g. Dịch quả dùng uống trong, ngày uống 3 lần trước các bữa ăn.

–    Lá dùng ngoài không kể liều lượng. Người ta dùng nướng chín để nắn, xoa bóp hay nấu nước xông và ngâm để chữa sưng chân do hàn thấp, chướng khí, giảm đau do trúng phong tê bại. Lá non dùng chữa sưng trên khớp, bong gân, gãy xương do ngã, chấn thương; còn dùng chữa đau bụng, đầy bụng do lạnh. Hạt bưởi bỏ vỏ ngoài, nướng chín đen rồi nghiền thành bột dùng bôi chốc lở da đầu, ngày 2 lần, trong 2-3 ngày.

Đơn thuốc:

Cụ Hải Thượng Lãn ông đã ghi trong Bách gia trân tàng.

  1. Chữa phù thũng: vỏ bưởi đào, mộc thông, bồ hóng mỗi vị 20-30g, diêm tiêu 12g, cỏ bấc 8g, sắc uống mỗi ngày 2 lần vào lúc đói và ăn một khẩu mía trước và sau khi uống thuốc. Kiêng muối và chất mặn.
  2. Chữa sản giật phù thũng, cùng các trường hợp phù thũng: vỏ bưởi khô và ích mẫu bằng nhau tán nhỏ uống mỗi lần 8g với rượu vào lúc đói. Hoặc dùng mỗi vị 20-30g sắc uống.

Ở Trung Quốc, người ta cũng sử dụng một số đơn thuốc:

  1. Chữa ho có nhiều đàm: vỏ bưởi 10g, thêm đường kính, pha uống dần dần. 2. Chữa hen: vỏ bưởi (lấy ở quả bưởi từ 0,5 đến 1 kg), một miếng bách hợp, 120g vẩy hành khô, đường trắng 120 tới 250g, nấu nước uống, chia làm 3 lần uống trong ngày, liên tục trong 9 ngày.

Những người bị bệnh về lợi nếu mỗi ngày ăn 2 quả bưởi trong vòng nửa tháng sẽ giảm đáng kể bị chảy máu chân răng. Lý do bởi, ăn nhiều bưởi giúp tăng lượng vitamin C trong máu, giúp mau lành vết thương và giảm tổn hại do các phân tử gốc gây ra – các nhà nghiên cứu ở trường Đại học Friedrich Schiller (Đức) vừa cho biết.

Một cuộc nghiên cứu được tiến hành với 58 người bị bệnh về lợi mãn tính cho thấy, ăn bưởi có tác dụng tích cực đến cả những người hút thuốc và không hút thuốc. Được biết, hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh về lợi. Trong 2 tuần nghiên cứu, những ai mỗi ngày ăn 2 quả bưởi đều tăng lượng vitamin C.

Một số công dụng khác:

–    Lá bưởi tươi sát khuẩn dùng chữa cảm cúm.

–    Vỏ quả khô chữa ăn uống không tiêu, đầy bụng, đau bụng, ho.

–    Múi bưởi tươi ăn nhuận tràng, nước ép múi bưởi tươi chữa tiêu khát (đái tháo), thiếu sinh tố C.

–    Hạt bưởi chữa đau dạ dày.

Bài thuốc ứng dụng:

+ Bài 1:

Nếu bị cảm cúm, nhức đầu, sốt ho, sổ mũi, ngạt mũi, không ra mồ hôi, dùng các vị sau: lá bưởi 50g, lá sả 20g, lá hương nhu 20g, lá tre 20g. Tất cả cho vào nồi, lấy lá chuối bịt miệng nồi kín, đun sôi 5 phút rồi đem xông. Khi xông cần chú ý rạch lá chuối từ từ cho hơi nóng bốc vừa phải. Trùm chăn kín cho người bệnh xông trong vòng 10 phút, đến khi mồ hôi ra nhiều thì thôi và mở chăn ra từ từ. Sau đó dùng khăn mặt khô lau hết mồ hôi, tránh hướng gió lùa và đề phòng bỏng. Nhớ không được xông khi người bệnh yếu quá và khi mồ hôi ra nhiều.

+ Bài 2:

Chữa đầy bụng, ăn uống không tiêu, đau bụng: vỏ bưởi khô sao vàng thơm 12g, vỏ quýt sao thơm 12g, gừng tươi 3 lát đem tất cả sắc với 300ml nước, lấy 100ml chia làm hai lần uống trong ngày, uống lúc nóng.

+ Bài 3:

Chữa viêm loét dạ dày hành tá tràng: hạt bưởi để cả vỏ cứng 100g, rửa sạch cho vào một cốc thủy tinh to, rót vào 200ml nước sôi, đậy kín, ủ nóng trong 2- 3 giờ. Hạt bưởi sẽ tiết ra một chất nhầy làm cho cốc nước đặc, sánh như nước cháo đặc, gạn bỏ hạt lấy nước uống sau bữa ăn khoảng hai giờ. Mỗi ngày uống một lần. Hàng ngày làm và uống liên tục đến khi nào thấy hết đau thì thôi. Thường uống như vậy từ 5-7 ngày người bệnh sẽ thấy dễ chịu và hết đau.

Xem thêm: 

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng