Thời kỳ mang thai mắc bệnh mề đay phải làm thế nào?

0
Cập nhật lần cuối

Virut mề đay có thể gây nguy hiểm rất lớn cho phụ nữ mang thai, vì vậy trước và sau khi mang thai, phụ nữ mang thai phải đặc biệt coi trọng công tác dự phòng.

Mắc bệnh mề đay trong thời kỳ mang thai làm làm thế nào?

Mề đay là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut mề đay gây nên. Nó không chỉ có thể gây viêm nhiễm khắp người phụ nữ mang thai, còn có thể gây viêm nhiễm trong tử cung thông qua nhau thai và bộ phận sinh dục, gây sảy thai, thai nhi khó phát triển trong tử cung bị chứng mề đay bẩm sinh.

Sau khi phụ nữ mang thai mắc bệnh mề đay, ban đầu thường thấy đau cổ họng, sốt, ho, sổ mũi, đau đầu và đau khớp, đau cơ, ra nhiều khí hư.

Sau đó có thể xuất hiện ở sau tai, sau cổ và hạch toàn thân sưng to, đặc trưng rõ nét nhất là trên mặt, thân người và tứ chi của phụ nữ mang thai xuất hiện nhiều nốt ban đỏ, nốt mẩn đỏ và niêm mạc da xung huyết.

Tại sao virut mề đay lại nguy hại đến thai nhi? Đó là do virut mề đay sau khi xâm nhập vào cơ thể, nó có thể khống chế hạch phân chia, làm cho nhiễm sắc thể bị đứt và không thật, làm cho sự phát triển của các bộ máy gặp trở ngại.

Khi phụ nữ mang thai nhiễm virut mề đay, virut có thể tiến vào cơ thể thai nhi thông qua nhau thai, làm tổn hại đến thai nhi. Trong giai đoạn đầu của kỳ mang thai, sự phân hoá các bộ máy của thai nhi vẫn chưa hoàn thiện, virut sinh sôi trong tế bào của phôi thai, làm cho nhiễm sắc thể của tế bào bị đứt, ảnh hưởng đến quá trình nhân bản của tế bào ADN.

Do virut mề đay tiếp tục tồn tại, một khối lượng lớn tế bào nhiễm virut mề đay bị hạn chế bởi sự phân chia, gây tổn hại đến sự phát triển của các bộ phận của phôi thai. Biểu hiện cụ thể của sự tổn hại này là chứng mề đay bẩm sinh.

Chứng mề đay bẩm sinh nghĩa là thai nhi bị dị dạng do virut mề đay gây nên, những sự dị dạng này hầu như liên quan đến các bộ máy và hệ thống, bao gồm:

(1) Dị dạng mắt: bệnh đục thuỷ tinh thể bẩm sinh, giác mạc vẩn đục, viêm võng mạc, mắt lác bẩm sinh.

(2) Dị dạng hệ thống thần kinh trung ương: nghễnh ngãng do thần kinh, nói lắp, dị dạng tiểu não, trí lực phát triển không đầy đủ.

(3) Dị dạng tâm huyết quản: bệnh tim bẩm sinh thuộc mọi loại hình.

(4) Hệ thống hô hấp: viêm phổi virut.

(5) Hệ thống tiết niệu và sinh dục: nứt dưới niệu đạo, ẩn tinh hoàn, xơ thận.

(6) Hệ thống máu: thiếu máu mang tính hoà tan máu, bạch cầu giảm, tử điển mang tính giảm tiểu cầu.

(7) Hệ thống xương: hở hàm ếch, ngón tay ngón chân ngắn. Trong sự biến đổi bệnh lý này, thường gặp nhất là bệnh đục thuỷ tinh thể bẩm sinh (chiếm khoảng 89%), tiếp theo là điếc (chiếm 84%), dị dạng tâm huyết quản chiếm 60%.

Sự phát sinh bệnh mề đay bẩm sinh liên quan mật thiết với thời gian nhiễm virut. Theo quan sát của các nhà khoa học, tháng mang thai đầu tiên nhiễm bệnh mề đay, cơ hội thai nhi mắc bệnh mề đay bẩm sinh là 50%, tháng thứ hai là 30%, tháng thứ ba là 20% và tháng thứ tư là 5%. Nhưng dù nhiễm virut mề đay từ sau tháng thứ tư, cũng vẫn có tính nguy hiểm nhất định.

Virut mề đay gây dị dạng có tính thời gian rõ rệt. Thời gian nhiễm khác nhau dẫn đến sự dị dạng khác nhau. Nếu nhiễm virut trong tháng thứ hai thì dễ gây dị dạng tâm huyết quản, dễ mắc bệnh đục thuỷ tinh thể và tăng nhãn áp, nếu nhiễm sau tháng thứ tư thì chủ yếu có biểu hiện thính giác gặp trở ngại và phát âm khác thường.

Điều khiến người ta không thể yên tâm là, những sự biến đổi bệnh lý này không thể hiện rõ lúc thai nhi chào đời, nhưng sau vài tuần, vài tháng, thậm chí vài năm có thể thể hiện rất rõ.

Theo thống kê, người mắc bệnh mề đay trong 3 tháng đầu thì khoảng 70% trẻ đến 4 tuổi mới có biểu hiện khác thường. Thai nhi dị dạng sinh ra thường đủ tháng, nhưng thể trọng tương đốinhẹ, trong đó có 10% ~ 20% sinh ra được khoảng 1 năm thì chết.

Virut mề đay có thể gây nguy hiểm rất lớn cho phụ nữ mang thai, vì vậy trước và sau khi mang thai, phụ nữ mang thai phải đặc biệt coi trọng công tác dự phòng.

Trước tiên phải tích cực tiêm phòng dịch. Hiện nay loại văcxin thường dùng là văcxin RA27/3, văcxin này có hiệu quả tương đối tốt, giá trị kháng thể cao, thời gian phát huy tác dụng lâu, an toàn, đáng tin cậy, hiệu quả dự phòng có thể đạt tới 95%, nhưng phụ mữ mang thai không được tiêm; Phụ nữ trong độ tuổi sinh nở trong 3 tháng sau khi tiêm không được mang thai.

Tiếp theo, phải cách ly bệnh nhân đến hết tháng thứ 5,trong hai mùa phát bệnh nhiều là mùa đông và mùa xuân, trong thời gian lưu hành bệnh mề đay, phụ nữ mang thai phải tránh tiếp xúc với bệnh nhân.

Đối với phụ nữ mang thai trong giai đoạn đầu của kỳ mang thai được chẩn đoán chính xác là nhiễm virut mề đay, nói chung nên đi nạo thai.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng