Bệnh tiểu đường trong khi mang thai

0

Bệnh tiểu đường là bệnh nội tiết do trong cơ thể thiếu insulin gây nên, đặc điểm lâm sàng là “3 nhiều 1 ít” – uống nhiều, ăn nhiều, đi tiểu nhiều và sụt cân nhiều

Mắc bệnh tiểu đường trong khi mang thai phải làm thế nào?

Bệnh tiểu đường là bệnh nội tiết do trong cơ thể thiếu insulin gây nên, đặc điểm lâm sàng là “3 nhiều 1 ít” – uống nhiều, ăn nhiều, đi tiểu nhiều và sụt cân nhiều

Nó có mối quan hệ nhất định đến nhân tố di truyền, theo điều tra, người có lịch sử gia đình mắc bệnh tiểu đường thì tỷ lệ phát bệnh của họ cao hơn người bình thường.

Cũng rất nhiều bệnh nhân tiểu đường là nữ, theo con số thống kê của Mỹ cho thấy, cơ hội phụ nữ mắc bệnh tiểu đường cao hơn 50% so với nam.

Như vậy, trong khoa sản lâm sàng tương đối thường gặp biến chứng tiểu đường trong kỳ mang thai.

Từ khi ứng dụng điều trị bệnh tiểu đường bằng insulin, tuy tình hình có cải thiện, nhưng do quá trình bệnh lý của bệnh tiểu đường của phụ nữ mang thai tương đối phức tạp, nên tỷ lệ tử vong của mẹ và con vẫn tương đối cao.

Sau khi mang thai, do nhu cầu sinh lý nên các bộ phận trong cơ thể bao gồm hệ thống nội tiết đều xảy ra hàng loạt sự thay đổi.

Vì mang thai nên người bệnh có thể có phản ứng nôn thốc nôn tháo, lúc này nếu người mắc bệnh tiểu đường không phân tiết đủ insulin, thì dễ bị DKA.

Cùng vói kỳ mang thai, lượng phân tiết các chất hoocmon nội tiết trong cơ thể như hoocmon sinh dục, hoocmon sinh trưởng, hoocmon màng tuyến thượng thận và hoocmon tuyến giáp trạng đều tăng.

Trong các tổ chức ngoại vi, các chất hoocmon này đều có tác dụng chống insulin, hơn nữa lại có tác dụng phân giải chất béo, vì vậy lúc này phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường dễ bị DKA.

Trong thời kỳ sinh nở và sản hậu, do lượng nhu cầu chất insulin trong cơ thể không ngừng thay đổi, nhưng chức năng insulin của phụ nữ mang thai lại kém, rất có thể không thể điều chỉnh kịp nên dễ bị DKA và đường huyết thấp.

Kếđó, đa số người mắc bệnh tiểu đường có biến chứng khoang huyết quản nhỏ hẹp, nên tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao trong kỳ mang thai cao hơn phụ nữ mang thai thường từ 4~8 lần.

Đồng thời do sự cung ứng máu cho thai nhi bị ảnh hưởng, chức năng của thai nhi kém, do đó tỷ lệ mắc chứng kinh giật, nhau thai rụng sớm và huyết quản não không thuận cũng cao hơn phụ nữ mang thai thường.

Chức năng bạch cầu của người bệnh này tương đối kém, vì vậy có thông tin cho biết, trong thời kỳ mang thai và khi sinh, phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường dễ bị viêm nhiễm hệ thống sinh dục và tiết niệu

Thậm chí có thể phát triển thành bệnh nhiễm trùng máu và nguy hiểm đến tính mạng của phụ nữ mang thai.

Đối với phụ nữ mang thai bị tiểu đường còn có thể thấy hiện tượng nước ối quá nhiều, có khi vì nước ối tăng đột ngột nên có thể làm cho chức năng của tim và phổi bất thường.

Bệnh tiểu đường không chỉ có ảnh hưởng xấu đến phụ nữ mang thai, còn nguy hại đến cả thai nhi. Biểu hiện cụ thể như sau:

(1) Khi sinh thể trọng của thai nhi thường > 4000g, có thể gây khó sinh.

(2) Cuống rốn bị chèn, thai nhi có thể vì thế mà thiếu oxy và bị chết.

(3) Do lượng đường trong máu của phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường cao, nên làm tăng sự phân tiết insulin trong thai nhi, xuất hiện chứng tăng insulin trong máu của thai nhi, dễ làm cho thai nhi bị dị dạng

Đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của não. Theo thống kê, tỷ lệ thai nhi dị dạng ở phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường là 4,8% (ở người bình thường chỉ có 1,65%), tức là gấp 3 lần so với người bình thường.

(4) Nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường có bệnh biến về huyết quản và thận, có thể làm giảm lưu lượng máu trong tử cung và nhau thai, lúc này còn có thể có hiện tượng thai nhi phát triển chậm trong tử cung và khi sinh thì thể trọng nhẹ.

Qua đó có thể thấy, phụ nữ mắc bệnh tiểu đường không nên mang thai. Nếu đã mang thai thì phải căn cứ vào mức độ bệnh tình để quyết định xem nên giữ hay bỏ.

Đối với người mắc bệnh tiểu đường trong thời gian ngắn và bệnh tình không trầm trọng thì có thể mang thai tiếp.

Nếu trong kỳ mang thai bệnh tình nặng hơn hoặc có biến chứng nghiêm trọng, phải bỏ thai kịp thời.

Trong quá trình mang thai, phụ nữ mang thai phải thường xuyên đến khoa nội tiết kiểm tra, đồng thời cần chú ý những vấn đề sau:

1. Điểu chỉnh chê độ ăn uống một cách thích hợp.

Do phụ nữ mang thai ngoài việc đáp ứng dinh dưỡng cho cơ thể, còn phải đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng của thai nhi

Vì vậy không nên quá hạn chế lượng calo, nói chung lượng calo cung cấp mỗi ngày cần duy trì mỗi kg thể trọng cần hấp thụ 146,3-167,2kJ (35~40kcal)

Thực phẩm chính khoảng 300~400g, prôtêin mỗi ngày duy trì mỗi kg thể trọng cần hấp thụ l,5~2g. Thực phẩm cả ngày chia làm 4-6 lần hấp thụ, buổi tối trước khi đi ngủ ăn 1 lần.

2. Trong thời kỳ mang thai không nên uống thuốc hạ đường.

Vì thuốc hạ đường loại sulfonylureas như tolbutamide có thể đi qua nhau thai vào trong cơ thể của thai nhi, kích thích thai nhi tăng sinh insulin, làm cho thai nhi tiết ra quá nhiều insulin

Vì vậy một số trẻ có hiện tượng đường huyết thấp, thậm chí gây tử vong. Có trẻ thì mình, tứ chi và xương bị dị dạng, sứt môi, hở hàm ếch. Một số loại thuốc hạ đường có thể làm cho thai nhi bị trúng độc axit lactic, phụ nữ mang thai cũng không nên dùng.

3. Sử dụng đúng chất insulin.

Do chất insulin không thể đi qua nhau thai, nên phụ nữ mang thai có thể sử dụng. Như dịch hỗn hợp insulin kẽm kết tinh trung tính và insulin chiết xuất từ tinh dầu cá và anbumin.

Nói chung phụ nữ mang thai có bệnh tình nhẹ nếu uống thuốc khống chế đường huyết trong phạm vi bình thường, có thể trải qua kỳ mang thai một cách suôn sẻ.

Đốỉ với bệnh nhân không thể không chế đường huyết, phải chữa trị bằng insulin. Lượng thuốc dùng tuỳ thuộc vào bệnh tình, dùng 1 lần vào buổi sáng hoặc sáng và tối mỗi buổi 1 lần.

Ngoài ra, nếu làm phẫu thuật, do tác dụng gây mê nên phải tăng dung lượng insulin. Trong thời kỳ sản hậu cũng phải chú ý đến hiện tượng đường huyết thấp của sản phụ.

4. Tiến hành tự giám hộ.

Qua 4 giai đoạn đo lượng đường trong nước tiểu, có thể tính sơ được mức đường huyết trong một ngày.

Giai đoạn đầu là chỉ nước tiểu thải ra từ sau bữa sáng đến trước bữa trưa

Giai đoạn thứ hai là nước tiểu từ sau bữa trưa đến trước bữa tôi

Giai đoạn thứ ba là nước tiểu từ sau bữa tối đến trước khi đi ngủ

Giai đoạn thứ tư là nước tiểu từ sau khi đi ngủ đến trước bữa sáng ngày hôm sau.

Trong mỗi giai đoạn lấy một ít nước tiểu đựng vào lọ rồi đo lượng đường, kết quả tính được chính là lượng tiểu đường của 4 giai đoạn.

Nếu tiểu đường trong mỗi giai đoạn về vi lượng đến giữa một dấu chứng tỏ không chế đường huyết tốt.

Khi có phản ứng đường huyết thấp (chủ yếu khi bụng đói, biểu hiện là ra mồ hôi lạnh, hoảng hốt, chóng mặt, đói bụng, thậm chí nhận thức kém) hoặc tiểu đường trên một dấu phải đến bệnh viện điều chỉnh lượng thuốc insulin ngay dưới sự chỉ dẫn của bác sỹ.

5. Kiên trì kiểm tra định kỳ.

Cách 1~2 tuần phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường nên đi kiểm tra 1 lần, bao gồm kiểm tra đáy mắt, chức năng thận, siêu âm B, chức năng của nhau thai và tình trạng của thai nhi.

Nếu điều kiện cho phép, nên để bác sỹ khoa nội tiết đánh giá toàn diện trạng thái không chế bệnh tiểu đường, đồng thời căn cứ vào tình hình để điều chỉnh phương án chữa trị. Nếu trong quá trình kiểm tra phát hiện thấy đáy mắt và chức năng thận xấu đi, phải bỏ thai ngay.

6. Sinh kịp thời.

Vì hiện tượng thai nhi chết trong tử cung thường xảy ra sau 36 tuần mang thai, đặc biệt vào 2 tuần cuối của kỳ mang thai.

Để từng bước không chế bệnh tiểu đường, dự phòng thai nhi chết trong tử cung và thai nhi lớn gây khó sinh, phải quyết định thời gian và phương thức sinh.

Phụ nữ mang thai phải nằm viện trước ngày sinh khoảng 4~5 tuần. Nếu không có biến chứng, bệnh tiểu đường lại không chế tương đối tốt thì có thể sinh sau 39-40 tuần.

Bệnh nhân có lịch sử bệnh dài, có sự biến đổi bệnh lý của huyết quản, cùng với sự giám hộ chặt chẽ thì thời gian chuyển dạ lý tưởng nhất là sau 37-39 tuần, nếu có biến chứng khác thì phải sinh sớm.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng