Cơ thể phụ nữ sau khi mang thai biến đôi thế nào?

0

Hiện tượng này lại xảy ra tương đối nghiêm trọng đối với một số ít phụ nữ, họ nôn mửa nhiều lần trong ngày, thậm chí kéo dài liên tục, ảnh hưởng tới việc hấp thu thức ăn…

Những biến đổi của cơ thể phụ nữ sau khi mang thai (Phần 1)

1. Buồn nôn, nôn mửa:

Thời kì đầu mang thai, có khoảng 50% phụ nữ có hiện tượng buồn nôn, nôn mửa, chán ăn với mức độ khác nhau, đặc biệt là sợ thức ăn dầu mỡ, hiện tượng nôn mửa thường xảy ra vào buổi sáng khi mới ngủ dậy, đây gọi là phản ứng thai nghén.

Nhìn chung, hiện tượng này xảy ra mức độ nhẹ ở đa số phụ nữ, họ vẫn có thể làm việc, sống bình thường mà không gặp trở ngại gì, sau 3 tháng thai nghén, hiện tượng này tự khắc biến mất.

Tuy nhiên, hiện tượng này lại xảy ra tương đối nghiêm trọng đối với một số ít phụ nữ, họ nôn mửa nhiều lần trong ngày, thậm chí kéo dài liên tục, ảnh hưởng tới việc hấp thu thức ăn, đồng thời xảy ra hiện tượng mất nước và trúng độc axit, gây tổn hại lớn đối với sức khỏe của bản thân và thai nhi.

Đa số chuyên gia cho rằng, có những nhân tố sau liên quan tới hiện tượng buồn nôn, nôn ở phụ nữ:

(1) Cơ thể phụ nữ mang thai có thể sinh ra một loại chất gọi là hormon steriod. Loại chất này có thể giảm bớt sự bài tiết của vị toan, khi vị toan quá nhiều, sự co bóp của dạ dày giảm, sức dãn nở của bắp thịt thấp, thức ăn và nước ứ đọng trong dạ dày, khiến dây thần kinh phế vị phản xạ hưng phấn, dẫn tới buồn nôn, nôn mửa.

(2) Sau khi mang thai, sự bài tiết trong cơ thể người phụ nữ có những biến đổi, tính hưng phấn ở vỏ não giảm, quá trình ức chế ở trung khu dưới vỏ não giảm, khiến chức năng thần kinh thực vật phía dưới não trung gian rối loạn, dẫn tới nôn.

Ngoài ra, còn có người cho rằng, hormon nữ đột nhiên tăng mạnh ở thời kì đầu mang thai, thời kì đầu mang thai thiếu xeton, cũng là những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng nôn.

Sau khi xảy ra hiện tượng buồn nôn, nôn mửa, cần cố gắng ăn nhiều, bổ sung dinh dưỡng. Người bị nhẹ có thể uống vitamin B6, mỗi lần từ 10 ~ 20mg, ngày uống 3 lần; Vitamin C, mỗi ngày 100mg, mỗi ngày 3 lần. Đối với người bị nặng, ngoài uống thuốc kể trên, còn cần uống thuốc an thần, giảm nôn, như megaphen, mỗi ngày uống 25g, 2 ~ 3 lần, đồng thời bổ sung nước và chất điện giải.

Ngoài ra, biện pháp chữa trị theo kiểu ăn uống cũng tương đối có hiệu quả. Nó chính là sự kết hợp giữa thức ăn và chữa trị, phụ nữ mang thai có thể chọn dùng:

(1) Gừng, trần bì mỗi loại 15g, sắc đun lên lấy nước uống.

(2) Trứng gà 1 quả, đường trắng 30g, dấm 60ml. Trước hết đun nóng dấm, cho đường vào quấy tan, đập trứng gà vào, đợi trứng chín, ăn trứng uống canh.

(3) Rửa sạch gừng (lượng vừa đủ), ép lấy 30ml nước gừng, rang với 250g gạo nếp, cho tới khi gạo nếp nứt ra, lấy gạo nếp nghiền vụn, mỗi lần hoà 10 ~ 20g với nước ấm, mỗi ngày uống 2 lần.

(4) Nướng ròn mề gà, rồi nghiền vụn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g với nước cơm.

(5) Lê to 1 quả, nhét 15 hạt đinh hương vào trong quả lê, hấp chín, ăn lê.

2. Tim đập nhanh:

Sau khi mang thai, hệ thống tâm huyết quản ở phụ nữ có rất nhiều thay đổi để thích ứng với nhu cầu của thai nghén. Để cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho thai nhi đang phát triển trong tử cung, dung lượng máu của người mẹ bắt đầu tăng ngay ở kì đầu mang thai, tăng với tốc độ nhanh nhất ở kì giữa và đạt đỉnh cao khi vào tuần thai từ 32 – 34, bình quân tăng khoảng 1500ml.

Cùng với tốc độ tuần hoàn máu trong cơ thể mẹ tăng nhanh, số lần tim đập cũng tăng mạnh lên để giúp tim thực hiện việc bài tiết máu. Có người đo được rằng, vào tuần thai thứ 20 – 28, lượng máu bài tiết từ tim phụ nữ mang thai tăng 30 – 50% so với lúc chưa mang thai, mỗi phút tim đập tăng 10 ~ 15 lần.

Ngoài ra, cùng với tử cung của phụ nữ sau khi mang thai liên tục to ra thì vị trí của đáy tử cung liên tục lên cao, khiến áp lực trong khoang bụng càng ngày càng lớn, cơ hoành lên cao, không gian ở vùng ngực nhỏ lại, vị trí của tim thay đổi mang tính sinh lý, di chuyển lúc lên trên, lúc sang trái

Đồng thời, di chuyển về phía trước, ép sát vào thành ngực, khiến tim đập nhanh. Những biến đổi này đều là những biến đổi về sinh lý, là chuyện bình thường không có gì lạ.

Nếu cơ thể người phụ nữ mang thai khỏe mạnh, không có bệnh về tâm huyết quản hoặc tiền sử bệnh huyết áp cao thì không phải quá lo lắng, căng thẳng. Bình thường, cần chú ý, không nên đi quá nhanh, cẩn thận khi lên xuống cầu thang, không làm việc quá sức,

Tuy nhiên, một điểm cần chú ý nữa là, gần đến ngày sinh, một số ít phụ nữ thấy xuất hiện hiện tượng đau đầu khi nằm ngửa, sắc mặt nhợt nhạt, ra mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, huyết áp giảm.

Nhưng khi thay đổi tư thế nằm nghiêng sang trái thì những hiện tượng kể trên không xảy ra nữa. Kiểu thay đổi này, y học gọi là hội chứng huyết áp thấp vị trí nằm ngửa. Nguyên nhân là do tử cung to ra sau khi mang thai đã ép tĩnh mạch bụng dưới, lượng máu trở về tim giảm đột ngột, khiến lượng máu bài tiết ở tim giảm, huyết áp giảm.

3. Thở gấp:

Sinh mệnh của con người từng phút từng giây không thể thiếu oxi, sự phát triển của thai nhi lại cần tiêu hao một lượng oxi lớn. Để thỏa mãn nhu cầu của thai nhi, hệ thống hô hấp của người mẹ đã có nhiều thay đổi ngay từ thời kì đầu mang thai, biểu hiện ở: xương sườn to ra, ngực giãn nở, cơ hoành phát triển, khi hô hấp mức độ co bóp ở cơ hoành tăng.

Vì thai nhi trong tử cung hoàn toàn dựa vào mẹ để hít oxi, nên người mẹ cần tiêu hao thêm 10 – 20% lượng oxi, kết quả là, người mẹ nhất thiết phải tăng lượng thông khí ở phổi để cung cấp đủ cho bản thân và thai nhi, theo ước tính, có thể tăng 40%. Ở thời kì đầu mang thai, có thể nhờ vào mức độ vận động của cơ hoành để hút oxi, nhưng vào thời kì cuối, tử cung ngày càng to, chèn ép sự vận động lên xuống của cơ hoành.

Trung khu hô hấp của người mẹ lúc này đành phải tìm đường khác, chọn biện pháp hô hấp với hô hấp ngực là chính, qua đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của cơ thể và thai nhi, biểu hiện ra bên ngoài bằng việc thở gấp, thở mạnh, dường như là đang thở bằng vai. Nhìn chung khi đầu thai nhi đã ở trong khoang chậu, vị trí của tử cung hạ thấp, thì tình trạng thở gấp của người mẹ mới giảm bớt.

Khi thấy hiện tượng thở gấp, phụ nữ mang thai không nên lo lắng, cần chú ý nghỉ ngơi, không nên làm việc quá sức, đi lại nhẹ nhàng, cẩn thận khi lên xuống cầu thang. Khi thấy có hiện tượng thở gấp, có thể dừng lại nghỉ một chút. Nếu thở gấp gây ảnh hưởng cho giấc ngủ, thì có thể kê gối cao lên, khi ngủ nằm nghiêng.

Nếu khi thở gấp, kéo theo những bệnh khác như: đau đầu, hoa mắt, phù thũng, hoang mang,., phải tới bệnh viện khám để hiểu rõ nguyên nhân.

4. Dạ dày nóng (sốt ruột, tiêu hóa kém):

Khi mang thai, khả năng dãn nở của cơ xương đường tiêu hóa dưới giảm, không thể dễ dàng vận chuyển thức ăn từ trong ruột vào ruột già, khiến thức ăn trong dạ dày có thể quay trở lại thực quản, khiến phụ nữ mang thai cảm thấy “sốt ruột”.

Kì cuối thai nghén, tử cung nở rộng, có thể ép dạ dày, khiến vị trí dạ dày thay đổi, gây trở ngại cho thức ăn từ dạ dày qua môn vị vào ruột non, thời gian dạ dày trông không kéo dài, vị toan và pepcin giảm, phụ nữ mang thai sẽ cảm thấy chán ăn, tiêu hóa kém.

Xảy ra hiện tượng dạ dày nóng còn có thể liên quan tới những nhân tố sau:

(1) : Ăn no: Ăn no, đặc biệt là thức ăn chứa nhiều mỡ, uống quá nhiều đồ uống đều dẫn tới tình trạng dạ dày nóng. Ăn no và uống nhiều đồ uống, thức ăn và chất lỏng sẽ tích tụ trong dạ dày, làm tăng áp lực trong dạ dày, khiến vị toan dễ chảy ngược lại. Khi đồ ăn có chứa nhiều mỡ gặp vị toan và vào ruột non sẽ có một số hormon trong ruột bài tiết ra, một số hormon còn có thể khiến cơ vòng đoạn dưới thực quản dãn ra, dễ khiến vị toan chảy ngược trở lại thực quản.

(2) Hút thuốc, uống rượu: Thuốc lá, rượu có thể khiến cơ vòng đoạn dưới thực quản dãn ra, sẽ làm tăng cơ hội nóng dạ dày. Ngoài ra, cà phê, socola, trà đặc,., cũng có tác hại tương tự.

(3) Béo và thực quản rách: Theo điều tra, phụ nữ mang thai béo dễ bị nóng dạ dày hơn so với phụ nữ mang thai bình thường. Béo phì có thể làm giảm chức năng của cơ vòng đoạn dưới thực quản, một số bệnh tật nào đó cũng có thể dẫn tới bệnh nóng dạ dày ở phụ nữ mang thai, như thực quản rách…

(4) Thuốc: Những loại thuốc kháng sinh như atropine, probantin,… đều có thể làm dãn cơ vòng đoạn dưới thực quản, gây ra bệnh nóng dạ dày.

Nhìn chung, những nhân tố kể trên không cần phải quá chú trọng chữa trị. Song, cần chú ý luyện tập thể dục, ăn ít ăn thành nhiều bữa, ăn nhiều thức ăn dễ tiêu hóa, thúc đẩy dạ dày co bóp, như rau cải xanh, ăn ít thức ăn ngọt và có chứa mỡ. Ngoài ra, có thể uống vitamin B1 mỗi lần 10mg, ngày uống 3 lần; Men vô cơ, 2 ~ 3 viên, mỗi ngày 3 lần; Thuốc đông y bổ tì…

Đánh giá bài viết này

Chức năng bình luận đã bị đóng