Phụ nữ mang thai mắc bệnh lao phải xử lý như thế nào?

0

Phụ nữ mang thai mắc bệnh lao, phải xuất phát từ góc độ nuôi con khoẻ dạy con ngoan, tiến hành chữa trị kịp thời đối với phụ nữ mang thai không muốn nạo thai hoặc đã bước sang giai đoạn cuối và không nên bỏ thai.

Sau khi mang thai mắc bệnh lao phải xử trí như thế nào?

Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn lao gây nên, cũng được gọi là bệnh kết hạch. Nếu phụ nữ mang thai thấy có triệu chứng sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi, ra mồ hôi trộm, ngày càng gầy đi, ho, đau ngực, trong đàm có máu, thì phải nghi ngờ ngay đến khả năng mắc bệnh lao. Phải kịp thời đến viện khám và điều trị.

Nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh lao, phải xuất phát từ góc độ nuôi con khoẻ dạy con ngoan, tiến hành chữa trị kịp thời đối với phụ nữ mang thai không muốn nạo thai hoặc đã bước sang giai đoạn cuối và không nên bỏ thai.

(1) Phải đặc biệt lưu ý bảo đảm cung cấp đủ chất dinh dưỡng. Thực phẩm phải có đủ lượng calo, giàu prôtêin, vitamin và chất khoáng.

Tốt nhất nên uống viên canxi và dầu cá, để tiện cho sự phục hồi vùng nhiễm bệnh của phổi. Trong giai đoạn đầu của kỳ mang thai nếu có phản ứng chán ăn, buồn nôn và nôn mửa, phải kịp thời chữa trị, để tránh ảnh hưởng đến sự hấp thụ chất dinh dưỡng.

(2) Phải có chế độ nghỉ ngơi thích hợp. Nghỉ ngơi thích hợp có thể giảm sự hô hấp, có lợi cho phục hồi vùng bệnh.

(3) Trong giai đoạn đầu của kỳ mang thai cần tránh kiểm tra tia X không cần thiết, vì chiếu tia X quá nhiều có thể làm cho thai nhi phát triển dị dạng.

Khi cần thiết phải kiểm tra tia X, có thể chụp X quang, vì như vậy có thể rút ngắn thời gian chiếu tia X được vài giây, có thể giảm mức độ chịu tổn hại.

(4) Tránh sử dụng thuốc gây tổn hại đến thai nhi. Trong các loại thuốc chống kết hạch thường dùng, hai loại streptomycin và kanamycin đều có thể gây tổn hại đến đôi thần kinh não thứ 8 của thai nhi, làm cho thần kinh thính giác của một số trẻ sơ sinh bị tổn hại nghiêm trọng hoặc chức năng cân bằng gặp trở ngại, loại nặng có thể gây bệnh điếc bẩm sinh.

Nếu trong 3 tháng đầu dùng rifampicine hoặc rifamdin, có thể ảnh hưởng đến sự phân hoá, phát triển và hình thành của phôi thai, làm cho cơ thể và tứ chi của trẻ sơ sinh ngắn và dị dạng ở mức độ khác nhau.

Nhưng sau 3 tháng mang thai, tất cả bộ phận của thai nhi cơ bản đã hình thành, khả năng gây dị dạng thấp. Theo thống kê, tỷ lệ trẻ dị dạng ở phụ nữ mang thai sinh bình thường là 1,4%~1,6%, còn tỷ lệ trẻ dị dạng ở phụ nữ mang thai dùng rifampicine là 3,35%, không cao hơn người bình thường bao nhiêu..

(5) Kịp thời nằm viện sinh, để có thể rút ngắn quá trình sinh nỏ, tránh mất sức khi sinh.

(6) Sau khi sinh phải nghỉ ngơi lâu, đồng thời ăn nhiều thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, tốt nhất không cho bú cũng không nên bế con, nếu không vừa ảnh hưởng đến quá trình nghỉ ngơi, tiêu hao thể lực, lại có thể truyền bệnh lao sang trẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng